Thứ Năm, 18 tháng 9, 2008

Lợi nhuận ngân hàng: Đích tới còn xa



ACB vẫn duy trì mục tiêu lợi nhuận 2.500 tỷ đồng như kế hoạch đề ra đầu năm.
(ĐTCK-online) Lợi nhuận ngân hàng (NH) 3 quý đầu năm là bao nhiêu đang là câu hỏi khó với rất nhiều cổ đông. Ngay từ cuối quý II, khác với thông lệ hàng năm, rất nhiều NH đã giữ kín con số lợi nhuận của mình. Chính vì vậy, đến thời điểm này, việc tìm hiểu kết quả kinh doanh của các NH lại càng khó khăn hơn. Chỉ còn một vài đơn vị lớn công bố kết quả của mình, tuy vẫn khả quan nhưng vẫn ở tình trạng cố gắng đạt kế hoạch.
Tác động chủ yếu đến kết quả lợi nhuận của các NH là mảng tín dụng đang có những hạn chế, mặc dù đây vẫn là lĩnh vực mang lại lợi nhuận chủ yếu. Hiện tăng trưởng tín dụng của nhiều NH đã chạm ngưỡng cho phép (30%) và đang dần hạn chế cho vay ra, chỉ ưu tiên vốn cho những khách hàng cũ có khả năng trả nợ cao và năng lực tài chính mạnh. Mặt khác, lãi suất đầu ra cao cũng khiến khách hàng e ngại trong quá trình tiếp cận vốn vay.
Kết thúc 8 tháng đầu năm, DongA Bank thu về 440 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, so với kế hoạch cả năm là 740 tỷ đồng. Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Thị Ngọc Vân, Phó tổng giám đốc thường trực DongA Bank, khả năng để đạt được mục tiêu lợi nhuận như kế hoạch đề ra là có thể, vì 440 tỷ đồng lợi nhuận trên là của riêng DongA Bank. Còn kế hoạch 740 tỷ đồng cả năm là cộng gộp từ các công ty trực thuộc Ngân hàng nên hoàn toàn có thể đạt được mục tiêu.
Mặt khác, theo bà Vân, trong tổng thu nhập lợi nhuận của DongA Bank 8 tháng đầu năm, chênh lệch lợi nhuận thu về giữa lãi suất huy động và cho vay là không đáng kể mà chủ yếu từ nguồn thu của mảng dịch vụ tài chính - NH. Có nghĩa, trong chiến lược phát triển, DongA Bank không hoàn toàn dựa vào tín dụng mà hướng sắp tới là phát triển mạnh mảng dịch vụ. Bà Vân cho biết, ước tính nguồn thu từ mảng dịch vụ (Kiều hối, thanh toán quốc tế…) đã đóng góp gần 60% tổng lợi nhuận thu về của Ngân hàng trong 8 tháng đầu năm.
Trong khối ngân hàng, Eximbank là một trường hợp “đặc biệt” bởi tốc độ gia tăng lợi nhuận. Tính đến ngày 31/8 tổng lợi nhuận trước thuế của Eximbank đạt 982 tỷ đồng tăng 157% so cùng kỳ với năm 2007; tổng tài sản của ngân hàng đạt 48.130 tỷ đồng tăng 82%.
Theo giới ngân hàng thì Eximbank có một lợi thế lớn là nguồn vốn thặng dư cổ phần phát hành cho đối tác chiến lược năm ngoái lớn. Nguồn vốn này đóng góp một tỷ lệ đáng kể vào tổng lợi nhuận của Ngân hàng năm nay.
Trước diễn biến của thị trường và nhằm giảm áp lực về lợi nhuận khi hoạt động của ngành gặp nhiều khó khăn, Sacombank đã mạnh dạn xin ý kiến cổ đông để điều chỉnh chỉ tiêu lợi nhuận trong năm 2008 từ 2.000 tỷ đồng xuống còn 1.500 tỷ đồng. Kết thúc hoạt động 8 tháng đầu năm, Sacombank thu về 940 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế. Hiện Sacombank vẫn tiếp tục đẩy mạnh vốn đầu ra thông qua các chương trình tín dụng cho vay xuất nhập khẩu, với lãi suất thấp hơn mức trần quy định của NHNN. Đồng thời, Ngân hàng còn hỗ trợ các nhà đầu tư kinh doanh chứng khoán, với hạn mức 300 tỷ đồng và tiếp tục cung ứng vốn cho các khách hàng có nhu cầu sử dụng vào các mục đích khác trên cơ sở kiểm soát chặt của ban điều hành.
Tuy nhiên, ông Đặng Văn Thành, Chủ tịch HĐQT Sacombank cũng cho biết, lãi suất cho vay hiện nay chưa thể giảm sâu nên khách hàng không dám vay. Nhưng với mục tiêu lợi nhuận sau khi điều chỉnh còn 1.500 tỷ đồng, Sacombank kỳ vọng sẽ hoàn tất kế hoạch này.
Hiện một số NH cổ phần khác cũng đã điều chỉnh mục tiêu lợi nhuận, bởi những yếu tố trên. Chẳng hạn như VP Bank đã điều chỉnh giảm mục tiêu lợi nhuận từ mức trên 500 tỷ đồng theo kế hoạch đầu năm xuống còn khoảng 300 tỷ đồng. Mặc dù thị trường đã ổn định, hoạt động ngành NH giảm bớt khó khăn, nhưng so với mục tiêu lợi nhuận đề ra đầu năm, nhiều NH cho biết, khả năng đạt được sẽ không còn dễ dàng như năm trước.
Trong 2 tháng trở lại đây do chi phí huy động vốn đầu vào tăng cao, trong khi lãi suất đầu ra phải khống chế dưới mức trần cho phép nên nhiều NH đã cắt giảm tăng trưởng dư nợ cho vay, nhằm hạn chế những khoản vay không sinh lời. Chẳng hạn như ACB, DongA Bank do tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm đã chạm ngưỡng 30% buộc các đơn vị này phải chọn lọc kỹ hơn khách hàng trong việc cung ứng vốn. Tuy nhiên, với ACB vẫn duy trì mục tiêu lợi nhuận 2.500 tỷ đồng như kế hoạch đề ra đầu năm bằng cách tìm kiếm nguồn vốn đầu vào giá rẻ, đồng thời đẩy mạnh nguồn thu từ mảng dịch vụ tài chính.
Ông Hồ Hữu Hạnh, Giám đốc NHNN - Chi nhánh TP. HCM nhận định, khó có thể tránh được việc nhiều NH phải cắt giảm chỉ tiêu lợi nhuận như kế hoạch đề ra đầu năm. Trên thực tế, trong những tháng gần đây tăng trưởng tín dụng như huy động vốn tại các NH có dấu hiệu chững lại; khách hàng không dám vay vốn, vì lãi suất đầu ra vẫn ở mức cao; nhiều NH có chủ trương kiểm soát chặt vốn đầu ra và đẩy nhanh thu hồi nợ, tránh thua lỗ.


Thùy Vinh
Tinhnhanhchungkhoan

Thứ Tư, 17 tháng 9, 2008

Phép thử

Việc một số NH 100% vốn nước ngoài vừa được cấp phép thành lập, hoạt động tại Việt Nam đã chính thức khuấy lên sự lo ngại về năng lực cạnh tranh của các NH trong nước. Liệu cuộc chạy đua “điền kín” vị trí kinh doanh trên các địa bàn trọng điểm đã đủ giúp các NH trong nước đi trước? DĐDN có cuộc trao đổi về vấn đề này với ông Ân Thanh Sơn - TGĐ VIB Bank.

Lâu nay, các NH trong nước đã nhìn ra điểm yếu của mình và cố gắng nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ bán lẻ. Vậy kết quả thực tế đạt được như thế nào, thưa ông?

Dịch vụ NH bán lẻ là loại hình khó nhất trong tất cả các dịch vụ kinh doanh NH, nhưng đó là xu hướng phát triển dịch vụ tất yếu và các NH TMCP đều coi đó là mũi nhọn cần tập trung phát triển trong thời gian tới. Muốn vậy, trình độ quản trị quyết định nhiều đến việc triển khai dịch vụ bán lẻ; trình độ công nghệ càng cao thì chất lượng phục vụ cũng như độ gắn kết của khách hàng đối với sản phẩm NH bán lẻ càng cao. Còn nếu đầu tư tốt cho cơ sở vật chất, kỹ thuật, quy trình thủ tục và đội ngũ nhân lực thì mới có thể tăng khả năng quản trị rủi ro vốn luôn phát sinh cùng dịch vụ NH bán lẻ.
NH nước ngoài có tiềm lực tài chính mạnh, khả năng đầu tư cho dịch vụ NH bán lẻ là hơn hẳn chúng ta, kể cả chấp nhận đầu tư chịu lỗ. Vì thế, vấn đề nan giải nhất, khó khăn nhất đối với các NH Việt Nam trong thời gian tới là cạnh tranh tốt, cạnh tranh bình đẳng, sòng phẳng với các NH nước ngoài trong lĩnh vực NH bán lẻ.

Công nghệ có vai trò quan trọng trong cạnh tranh NH. Liệu các NH trong nước đã đủ lực để cạnh tranh bình đẳng chưa? Và trường hợp của VIB Bank thì sao, thưa ông?

Nói chung các NH trong nước đều có sự chuẩn bị tích cực. Chẳng hạn, từ năm 2005, chúng tôi đã triển khai chương trình công nghệ Symbols cho phép xây dựng mạng thanh toán trực tuyến trên toàn hệ thống VIB Bank - theo đánh giá của các chuyên gia là một trong những chương trình công nghệ Core-banking hiện đại hàng đầu thị trường. Đó là nền tảng quan trọng để chúng tôi phát triển dịch vụ NH bán lẻ. Về cơ cấu, chúng tôi đang tập trung nguồn lực phát triển các khối kinh doanh có chức năng trực tiếp triển khai dịch vụ NH bán lẻ sau này, như khối khách hàng cá nhân và khối thẻ. VIB Bank cũng chú trọng phát triển sản phẩm dịch vụ truyền thống và sản phẩm mới dựa trên nền công nghệ hiện đại, có thể "may đo" theo nhu cầu của khách hàng. VIB Bank cũng đang phát triển sản phẩm NH bán lẻ thông qua việc mở rộng và đẩy mạnh khai thác mạng lưới khách hàng tại các vùng kinh tế trọng điểm, các địa bàn xác định là mục tiêu lâu dài và triển vọng.
Vậy còn vấn đề phân khúc thị trường, liệu có sự bứt phá lớn không, thưa ông?
Theo tôi, điều kiện thị trường NH Việt Nam hiện nay chưa có những bước ngoặt nào đủ lớn để các NH có thể tập trung cho riêng một phân khúc thị trường nào đó. Các NH sẽ còn phải tiếp tục phát triển theo hướng đa năng và tùy theo thế mạnh của mỗi NH mà xác định phân khúc nào là trọng tâm, tỷ trọng vốn dành cho mỗi đối tượng khách hàng. Ngay cả các NH nước ngoài tại nước họ cũng phải làm như vậy.
Về phía VIB Bank, chúng tôi xác định hướng đi khá đa năng, có sự chú trọng vào những mục tiêu, những đối tượng theo từng giai đoạn. Hiện chúng tôi xác định tập trung vào dịch vụ NH bán lẻ với mục tiêu dài hơi, phục vụ các DNNVV, phục vụ các DN là đối tác lớn. Nhưng về cơ bản, sản phẩm bán lẻ vẫn chiếm tỷ trọng tương đối lớn, vì thế VIB Bank phải tập trung đầu tư toàn diện về cơ sở hạ tầng, công nghệ, nhân lực và đặc biệt là trình độ quản trị.

Để cạnh tranh, cách thức nhắm đến các cổ đông chiến lược nhằm gia tăng tiềm lực tài chính có phải hướng đi khôn ngoan vào lúc này? Kế hoạch của VIB Bank ra sao, thưa ông?

Hiện có một số đối tác chiến lược đặt sự quan tâm rất rõ ràng với VIB Bank, nhưng chúng tôi chưa thể nói về một sự lựa chọn nào. Quan điểm của VIB về đối tác chiến lược là khá cởi mở, điều quan trọng là phải lựa chọn được đối tác đúng. Chúng tôi sẽ lựa chọn đối tác chiến lược theo phương châm không đặt nặng vấn đề tài chính mà nhắm đến đối tác có định hướng phát triển phù hợp, khả năng hỗ trợ về quản trị, kỹ thuật, công nghệ và đặc biệt là tăng cường nguồn nhân lực để phát triển ngân hàng.

- Xin cảm ơn ông!

DDDN

Doanh nghiệp thua lỗ 3 năm liên tục được gia hạn nộp thuế


Theo Thông tư hướng dẫn thực hiện một số biện pháp xử lý nợ đọng thuế do Bộ Tài chính vừa ban hành, các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh còn nợ thuế do gặp khó khăn về tài chính, kinh doanh thua lỗ liên tục 3 năm (2005-2007) được xử lý gia hạn.
Đó là các doanh nghiệp phải di chuyển địa điểm kinh doanh ra khỏi nội thành theo quy hoạch của Chính phủ hoặc chính quyền địa phương; các doanh nghiệp gặp rủi ro trong kinh doanh dẫn đến khó khăn về tài chính, không có khả năng nộp đầy đủ và kịp thời tiền thuế phát sinh; các doanh nghiệp thực hiện dự án, công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước hoặc nguồn vốn ODA nhưng chưa được ngân sách nhà nước thanh toán, cấp phát nên không có nguồn để nộp thuế dẫn đến còn nợ thuế.
Các doanh nghiệp thực hiện các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, kinh doanh nhà đất được nhà nước giao đất hoặc đấu giá quyền sử dụng đất, cho thuê đất nhưng do chưa giải phóng được mặt bằng, chưa bàn giao đất, dẫn tới không có nguồn nộp ngân sách nhà nước cũng được đưa vào diện xem xét gia hạn nộp thuế.
Ngoài ra, Thông tư cũng quy định các trường hợp doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu được xử lý nợ thuế, tiền phạt. Theo đó, xét miễn truy thu, miễn phạt các khoản truy thu thuế, tiền phạt của các lô hàng có tờ khai đăng ký với cơ quan hải quan từ 15/10/1998 trở về trước; nợ thuế do một trong các nguyên nhân khách quan như thay đổi về chính sách thuế, văn bản hướng dẫn chưa rõ ràng...
chính phủ
Niêm yết “sân sau”



Sự kiện Công ty cổ phần Đầu tư khoan dầu khí Việt Nam (PVDI) sắp sáp nhập vào Tổng công ty cổ phần Khoan và Dịch vụ khoan dầu khí (PVD) đang làm nổi lên dư luận về việc đây có phải là kiểu niêm yết "sân sau"?
Theo thông báo từ Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM, PVD đã đăng ký triệu tập đại hội cổ đông bất thường vào khoảng thời gian từ tháng 10/2008 - tháng 11/2008 để lấy ý kiến về việc sáp nhập giữa 2 công ty như nói trên. Việc mua bán, sáp nhập giữa các công ty không phải là chuyện mới mẻ tại Việt Nam. Tuy nhiên, sự kiện này gây chú ý dư luận bởi nhiều lý do. Tính đến thời điểm hiện nay thì PVDI mới chỉ ra đời và hoạt động được khoảng một năm rưỡi. Cụ thể, PVDI được thành lập vào tháng 4.2007 với cổ đông sáng lập là PVD cùng 2 cổ đông sáng lập khác là Công ty cổ phần quản lý quỹ Bản Việt và Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn (SSI); vốn điều lệ của PVDI là 1.000 tỉ đồng, trong đó PVD nắm giữ 51%. Hiện tại, giá cổ phiếu của PVDI trên thị trường OTC vào khoảng 20.000 đồng/cổ phiếu, còn giá cổ phiếu của PVD sau phiên giao dịch ngày 12.9 là 92.000 đồng/cổ phiếu. Hiện lý do sáp nhập vẫn chưa được thông báo rõ ràng tới cổ đông.

Theo ông Huy Nam, chuyên gia chứng khoán tại TP. HCM, rõ ràng đó là một sự tính toán lớn. Động tác sáp nhập quá nhanh này khiến cho việc giải thích lý do là rất khó khăn. Ông Nam phân tích, thông thường việc sáp nhập có ý nghĩa để cộng hưởng sức mạnh cho công ty nhưng trong trường hợp này, việc sáp nhập thực sự không cần thiết. Với việc sở hữu tới 51% cổ phần của PVDI, PVD hoàn toàn có ảnh hưởng quyết định tới mọi vấn đề của PVDI mà không cần thiết phải sáp nhập. Nếu xét trên phương diện đầu tư thì việc để riêng 2 công ty vẫn hay hơn vì PVD sẽ không phải chịu gánh nặng đầu tư mà vẫn có quyền kiểm soát 49% còn lại.

Cũng về khía cạnh đầu tư, một chuyên gia chứng khoán khác nhận định, trong bối cảnh thua lỗ chung của các công ty đầu tư vào lĩnh vực tài chính thì việc "đầu tư" của PVD tỏ ra rất hiệu quả (giá cổ phiếu của PVDI đã tăng gấp đôi so với mệnh giá). Ngoài ra, các cổ đông của PVDI cũng được lợi từ việc giá cổ phiếu của PVDI tăng lên. Vậy người thiệt thòi trong phi vụ này là ai? Đó chính là các cổ đông của PVD. Sau khi sáp nhập, PVD sẽ phải chịu các chi phí đầu tư giàn khoan của PVDI, đồng thời giá cổ phiếu PVD bị pha loãng, lợi nhuận trên cổ phần giảm sút. Đó là lý do vì sao trước khi vụ sáp nhập chính thức được tiến hành, hàng loạt cổ đông lớn của PVD đã bán ra cổ phiếu của công ty này.

Từ một công ty chưa được niêm yết, sau khi sáp nhập với PVD thì hiển nhiên PVDI đã được lên sàn mà không cần phải đợi thêm thời gian hay phải thực hiện các thủ tục bắt buộc. Rất có thể thương vụ sáp nhập này sẽ khơi mào cho trào lưu niêm yết "sân sau" và đây là vấn đề cần được cơ quan quản lý lưu ý.

Vietstock
Phương Pháp Theo Dõi Thị Trường Chứng Khoán


Sự khó khăn của người không dám và không thể gia nhập vào thị trường chứng khoán là vì họ không biết mua cổ phần nào cho có lợi.
Một là họ chấp nhận đứng ngoài cuộc chơi rồi phân tích những chuyện đã qua rồi, hai là họ mua lung tung, mỗi thứ một ít tiền rồi nghênh nghang tự đắc rằng ta đây cũng mua bán chứng khoán giống như ... ai. ...
Nếu thị trường lên thì họ lời, thị trường xuống thì họ lỗ. Người mua bán chứng khoán thực thụ thì trái lại, bất cứ thị trường lên hay xuống gì họ cũng kiếm cách để có lời.
Phương pháp sau đây là một trong những cách thức dễ dàng và hợp lý để bạn có ưu thế lăn lộn trong thị trường chứng khoán.
Quan sát thị trường mà chúng ta đang sống
Vệ tinh, Internet, sự phát triển của khoa học công nghệ... đã thúc đẩy kỹ nghệ truyền thông đến mức rất cao, xu hướng toàn cầu hoá thông tin làm cho con người luôn bị “bội thực” thông tin, lúc nào cũng cho ta cảm giác thiếu thời gian để tiếp nhận thông tin mới; trong khi cơ thể con người cần phải ăn, ngủ, nghỉ ngơi.Chúng ta choáng ngợp trong hằng hà sa số tin tức, muốn xem hết tin tức thì không còn thời giờ mà suy đoán để mua bán chứng khoán. Để đừng rơi vào trong trạng thái bị tê liệt vì nguồn thông tin quá nhiều. Chúng ta nên chuyên tâm vào một, và duy nhất thị trường chứng khoán ở nơi chúng ta đang sống mà thôi. Ưu điểm của sự hạn chế này là tự bạn gạt bỏ được những tin tức không cần thiết, chú tâm hơn với những cái mà bạn chỉ cần biết để thành công trên thị trường chứng khoán. Đừng đi tìm một thiên đường chứng khoán nào khác thị trường mà bạn đang cư ngụ nếu bạn chưa là người chuyên môn. Rào cản của ngôn ngữ, tiền môi giới, những gì không đăng tải trên báo chí... hạn chế khả năng thành công quá nhiều nếu bạn muốn gia nhập vào một thị trường khác.
Thế giới quanh ta luôn luôn biến động, nếu tinh ý, chúng ta đều có thể bắt được những tín hiệu để cho chúng ta có những cơ hội tuyệt vời để thành công trên thị trường chứng khoán. Chung quanh chúng ta, không biết bao nhiêu công ty đang làm ăn phát đạt, chỉ cần chúng ta làm một dây liên tưởng nối liền những điều tai nghe mắt thấy với thị trường chứng khoán là chúng ta thấy ngay những cơ hội đang tiềm tàng.

Chẳng hạn như bạn đi ăn tối ở một nhà hàng đầy nghẹt khách thì bạn nên về nhà, kiểm tra trên inetrnet coi tập đoàn nhà hàng này có niêm yết trên chứng khoán hay không, giá cổ phần là bao nhiêu... hay chỉ cần đi mua chai thuốc trị chứng hói đầu ở tiệm thuốc tây mà người dược sĩ khen ngợi không hết lời thì bạn có ngay tên công ty dược phẩm đáng chú ý.
Nếu một ngày nào đó mà bạn thấy nhà hàng vắng khách hay thuốc mọc tóc của bạn không có hữu hiệu thì nên bán những cổ phần của các công ty này dù giá cổ phiếu của những công ty đó đang lên.

Những gì bạn cảm nhận được ở xung quanh bạn là kết quả thành tựu hay mầm mống thất bại của những công ty đó.
Bạn đang quan sát thị trường chứng khoán, mua trên bán trước nhiều người khác bằng một cách tự nhiên và hợp lý vì bạn là nhân chứng trực tiếp trước khi hậu quả của những sự việc này làm giá cổ phần nâng hay hạ.
Ghi lại những biến chuyển của thị trường.
Chuyên môn hơn một bước thì bạn có thể ghi chép cổ phần của từ 5 đến 15 tên công ty xung quanh bạn mà bạn cho là đang ăn nên làm ra. Sự ghi chép này phải trở thành một thói quen hằng ngày, đều đặn. Những tay chuyên môn ghi lại giá của cổ phần với nhiều tin tức khác nhau như giá vào giờ mở cửa, (open), giá cao nhất (+high) và thấp nhất (+low), số lượng mua bán (volume), ngày họp cổ đông, ngày thông báo kết quả, tin tức liên quan v.v... bởi vì càng có nhiều thông tin về giá cả chừng nào thì họ càng dễ mua bán ở giá cả hợp lý chừng đó.
Về phần mình, bạn chỉ nên ghi chép những gì bạn hiểu và biết khai thác, mức giá cổ phần cuối cùng trong ngày (fixing) cũng có thể tạm đủ. Khi hiểu biết thêm thì bạn thêm vào những tin tức khác. Nếu bạn ghi chép lại nhiều tin tức quá mà không biết dùng nó thì bạn lại phí thời gian vô ích, bạn sẽ cảm thấy nhàm chán.Cách khai thác “nhật ký chứng khoán”của bạn.
Mỗi cổ phần lên xuống, giao động trong quỹ đạo riêng của nó, sau một thời gian bạn sẽ thấy những giao động lên xuống có thể đoán được. Song song với sự ghi chép giá niêm yết, bạn nên ghi thêm sự dự đoán của bạn. Ban đầu thì đơn giản chỉ là lên hay xuống, sau đó thêm giá cả của từng cổ phần. Điều tự nhiên làm nhiều người tập chơi chứng khoán giật mình là ... tự nhiên thấy mình có thể tiên đoán sự giao động của vài cổ phần một cách dễ dàng và khá chính xác. Sẽ nhiều người trầm trồ : “Chứng khoán chỉ là vậy !!”
Bạn giữ lại những cổ phần mà bạn dễ tiên đoán nhất, gạt bỏ vài cổ phần ít triển vọng, không lên không xuống hay là lên xuống một cách quá bất thường. Bạn có thể thay thế nó với những cổ phần của những công ty khác có dễ tiên đoán hơnBạn có thể mua 2 hoặc 3 cổ phần mà bạn cho là có triển vọng nhất. Số tiền cho mỗi cổ phần này nên không bao giờ quá 33% tiền vốn của bạn. Đi trước người khác một bước.
Khi một sự kiện gì liên quan đến chứng khoán, cổ phần đã loan tin rộng rãi trên các phương tiện truyền thông rồi thì hình như cũng mọi sự cũng đã an bài. Người muốn khai thác tin tức để làm một phi vụ mua bán có lãi đã chậm mất cơ hội. Thị trường chứng khoán luôn luôn đi trước một hay vài bước. Đầu óc chúng ta hơn máy móc là do chúng ta có khả năng tưởng tượng, suy đoán sự việc trước khi nó sẽ xảy ra. Chúng ta phải tập suy nghĩ xa hơn chúng ta nghe và thấy. Sau đây tôi xin đưa ra hai thí dụ:
Giá dầu hỏa đang lên và quá nhiều người đổ xô vào mua cổ phần của những công ty dầu hỏa, nếu bạn kết luận rằng đã quá trễ để đầu tư vào dầu hỏa thì bạn nên làm bước thứ hai: mua cổ phần của những công ty chế tạo những thiết bị tạo năng lượng không cần dầu hỏa bằng ánh sáng mặt trời, gió, sóng thủy triều...Báo chí loan tin rằng Việt Nam cho phép người nước ngoài và Việt Kiều mua và cất nhà ở Phú Quốc, bạn nhận định rằng giá đất ở Phú Quốc đã bị giới đầu cơ đẩy lên quá cao thì bạn nên quan tâm đến những dịch vụ, công ty có liên quan đến sự phồn thịnh cho Phú Quốc sau này: công ty đóng tàu du lịch cao cấp, thuyền buồm... Những thí dụ đây chỉ là... thí dụ, mong bạn đừng thấy bất cứ công ty nào đóng thuyền hay làm nhà máy thủy điện nào trên sàn chứng khoán cũng mua lấy mua để mà không cần gì thêm nữa. Đừng làm như thế, mua bán chứng khoán cần có một hệ thống hoàn chỉnh, từ đầu đến cuối, trong đó sự phán đoán cá nhân rất quan trọng, bạn chỉ nên mua công ty đóng thuyền hay thủy điện nào đã nằm trong sổ “nhật ký” của bạn mà bạn biết rõ sự giao động giá cả của nó. Liên tưởng tương lai là phụ, sự quan sát thị trường mới là chính. Quan sát những chuyện đang xảy ra thì có kết quả mau chóng, cho bạn biết nên mua bán cổ phần nào cho bạn nhiều lãi nhất. Liên tưởng đến tương lai thì cho bạn biết những lãnh vực mà bạn cần quan tâm, là sự thúc đẩy bạn dám quyết đoán mua bán khi người khác còn lừng khừng.
Ưu điểm của phương pháp quan sát thị trường chứng khoán bằng “da thịt, tai mắt, miệng lưỡi ...” và trí tưởng tượng này là một phương pháp ít cần kiến thức về chứng khoán nhất. Nó khá chắc chắn nếu bạn chịu khó suy nghĩ, nghiền ngẫm, “tiêu hoá “ những thông tin xung quan bạn. Khuyết điểm là bạn không thể mua đi bán lại trong thời gian rất ngắn, và bạn không thể triển khai nó nếu bạn không mua bán trong một thị trường chứng khoán thực thụ. Người sống ở các nước Tây phương không có khuyết điểm thứ hai vì thị trường chứng khoán ở đây đã được ra đời khá lâu và có những luật lệ kinh tế và chính trị khá chặt chẽ.Tóm lại mua bán chứng khoán không cần những năng khiếu hơn người, nó chỉ cần sự cần cù và sự tưởng tượng, biết kết hợp những sự kiện riêng lẻ, mơ hồ thành một sợi dây liền lạc. Những người nói rằng chứng khoán nguy hiểm thì họ nói đúng đối với họ vì họ không nắm rõ sự lên xuống của những cổ phần. Còn với những người biết rõ sự lên xuống của giá cả của vài ba, hay thậm chí chỉ một cổ phần thì....Vinabull

Curriculum Vitae (CV)



Name: LÊ MINH THẮNG

Date of Birth: 14/07/1965 Nationality: VIỆT NAM

Education:

1) Moscow University of Petroleum and Gas – Diploma Degree and Master Degree. (1990)
2) Hanoi School of laws – Bachelor Degree of Economic laws (1999)
3) Ministry of Justice – Professional Certificate of Lawyer (2004)

Membership of Professional Associations: Lawyer to Hochiminh City Bar Association (2007)

Other Training:
1) Business management held by Economic University of Hochiminh City.
2) Quality management held by UNDP.
3) Training course on international business law and international commercial negotiations held by VCCI and Law school of Hamline University, USA.
4) Basic training on the foreign trade held by Institute of Foreign Trade
5) Non-technical Drilling Instruction held by PVD Training.

Countries of Work Experience: within Vietnam.

Languages: Russian and English Languages – good in writing, speaking, reading and listening on both languages.

Employment Record:

I. Experience in the field of law

1) From 2000 – 2004 : I have had a part-time practice in the law offices of Mr. Trinh Dinh Ban, Mr. Le van Tuan, Mr. Tran Nien Hung. During this time, mostly I involved in different kind of trade and commercial contracts.
2) From 2005-2006: I was a practicing lawyer in law office of Mr. Tran Nien Hung taking part in crime cases such as thief, arms store, different civil cases on the land disputes, land-inheritance, house purchase, house mortgage, house renting and other consulting works on corporate activities as of steels import, import tax exemption.
3) From 2007-2008: I have joined to the Hochiminh city bar association and work as the collaborated lawyer in ARIKA Law office. I have been taking part in bankruptcy, defraudation, land contracts, labor contracts, divorce in unlawful marriage disputes and consultancies on corporate activities such as land purchase in industrial zone, company transformation, company charter and other company managerial documents, partnership agreement, merger and acquisition agreement.
4) Form July 2008, having been working as the Manager of investment consultant department in PVDI, I am also working as consultant for different contracts to support the project of platform construction and facility and security agreements therein. At the same time, I am working as collaborated lawyer in ARIKA law office.

II. Experience in the field of trading, commerce, management and company’s activities

1) From 2007 to June 2008
Employer: Petrovietnam Trading Company (Petechim)
Positions held: Deputy Director and then Director of Economics & Planning Dept

Detailed Tasks Assigned
- All related works on Company’s planning, strategy setting, following up business activities, tender for purchase of equipments, services and ISO establishment service.
- Evaluation of stocks and financial investment.


Work Undertaken that Best Illustrates Capability to Handle the Tasks Assigned
Name of assignment or project: Planning and Economics Department
Year: 2007- June 2008
Location: Hochiminh City
Client: PetroVietnam Trading Company (Petechim)
Main project features:
The Company was transformed into new form of enterprise under the new enterprise law 2005 with many works which need to be reviewed and re-planned after transformation.
New structure of the Company had caused new scheme of business management, planning, reporting and strategy setting.
Stock evaluation and financial investment is two new field of business the Company wish to develop.
Positions held: Deputy Director and Director
Activities performed: Manage the department to
1. Establish the fiscal business plan, budgets for the Company.
2. Re-draw the Company’s business development strategy to cope with new challenges after transformation and entering into WTO.
3. Draw up new procedures in cost control and personnel related policy.
4. Involve in preparation works for ISO establishment in the Company.
5. Take part in different types of tenders to employ services and purchase equipments pursuant to the regulation imposed on the Company.
6. Evaluate value of stocks and support decision of financial investment in companies to support Company’s activities.


2) From 2004 to 2006
Employer: Petrovietnam Trading Company (Petechim)
Position held: Deputy Director of Crude oil Export Dept

Detailed Tasks Assigned
- Over all works relating to the activities of the crude oil export and shipping matters.


Work Undertaken that Best Illustrates Capability to Handle the Tasks Assigned
Name of assignment or project: Deputy Director.
Year: 2004-2006
Location: Hochiminh City
Client: PetroVietnam Trading Company (Petechim)
Main project features:
Crude oil market turned into very difficult situation with surplus in supply which put the activities into very difficult stage that traditional customers were ready to leave Vietnam market.
The imminent ban on purchase of Bachho crude oil seemed to be called for by traditional customers as the market turned against sale policy.
The very large revenue of the crude oil export had called for very significant efforts in settling all matters to ensure works going well in the difficult time of the Company.
Positions held: Deputy Director
Activities performed:
1. Working in relation with high ranking people in Petro Vietnam to pursue the tasks assigned.
2. To manage the crude oil sale and export, vessel chartering for crude oil transportation.
3. To manage human resources to fit with new tasks assigned.
4. To establish annual, quarterly and monthly business plans;
5. To drawn up the strategies for customers and market development;
6. To organize, supervise and monitor implementation of set plans;
7. To ensure best coordination among teams within the department and evaluate the results of their works;
8. To solicit, develop different business relations with companies which Petechim did provide the services to or receive services from;
9. To negotiate overseas and domestic contracts in relation to crude oil sales, charter parties and other services for crude oil export activities.


3) From 2000 to 2003:
Employer: Petrovietnam Trading Company (Petechim)
Positions held: Manager of Petroleum Sharing Contract team

Detailed Tasks Assigned
- Sales Agent for exporting crude oils from PSC production oil fields such as Bunga Kekwa, Ruby, Rạng đông, Sư tử đen, Cái nước
- Drafting, negotiation on those crude oils lifting, joint marketing agreements.

Work Undertaken that Best Illustrates Capability to Handle the Tasks Assigned
Name of assignment or project: Marketing Agent for sale of crude oil from PSC.
Year: 2000-2003
Location: Hochiminh City
Client: PetroVietnam Trading Company (Petechim)
Main project features:
To solve problems with involvement of numerous Vietnamese and foreign parties in contract negotiation, sales, liftings of crude oil to safeguard production at the oil fields.
2. Time consuming and non-stop screening works.
Positions held: Manager
Activities performed:
1. Soliciting, discussing and negotiating with customers for sales of crude oil.
2. Co-work with Authorities, Operator, Inspectors, Agents, … for settlement of liftings, claims, costs, expenses arising from the activities and lost control.
3. Drafting, negotiation of joint marketing, sale contracts and other related contracts.
4. Liaising among principals, buyers and suppliers for offloadings of crude oils produced offshore Vietnam.


4) From 1997 to 1999
Employer: Petrovietnam Trading Company (Petechim)
Positions held: Manager of Bachho crude oil team

Detailed Tasks Assigned
- Planning export activities of Bachho crude oil
- Crude oil export contract draftings and negotiations.


Work Undertaken that Best Illustrates Capability to Handle the Tasks Assigned
Name of assignment or project: Crude oil Export
Year: 1997-1999
Location: Hochiminh City
Client: PetroVietnam Trading Company (Petechim)
Main project features:
1. Planning and coordinating crude oil export activities were very concentrating-required and without-fault works as any single mistakes could lead to very large scale, serious damages and losses.
2. Time consuming and non-stop screening works.
Positions held: Manager
Activities performed:
1. Planning and coordinating export activities of Bachho crude oil from Offshore Vungtau
2. Co-work with Falcon Shipping Company to run a time chartered crude oil carrier from offshore Vungtau for crude oil export.
3. Drafting, negotiation of crude oil export contracts,
4. Liaising among buyers and suppliers for the productions, offloadings and liftings of crude oil produced by Vietsovpetro.



5) From 1995 to 1996
Employer: Petrovietnam Trading Company (Petechim)
Positions held: Head of Shipping Team

Detailed Tasks Assigned
- Working on the joint venture establishment
- Running time chartered vessels.


Work Undertaken that Best Illustrates Capability to Handle the Tasks Assigned
Name of assignment or project: Crude oil carrier
Year: 1995-1996
Location: Hochiminh City
Client: PetroVietnam Trading Company (Petechim)
Main project features:
1. Crude oil carrier and its market were a new field of business in Vietnam that time.
2. All matters were new to me as I was the one among the first people in Vietnam worked on the crude oil carriers.
Positions held: Head of Shipping Team
Activities performed:
1. Co-work with Falcon Shipping Company to study and establish a feasibility study of a joint venture of crude oil carrier for Vietnam.
2. Studying and updating shipping market and its related information for the feasibility study of the project.
3. Drafting and negotiation on charter parties and CFR contracts, to manage and perform the charter parties and CFR contracts.
4. Running time- and spot-chartered crude oil carriers such as Chizukawa, Ocean Triumph, …


6) From 1993 to 1994
Employer: Petec Trading & Investment Company
Positions held: Staff in petroleum market survey team

Detailed Tasks Assigned
- Petroleum market study and evaluation.



Work Undertaken that Best Illustrates Capability to Handle the Tasks Assigned
Name of assignment or project: Petroleum market
Year: 1993-1994
Location: Hochiminh City
Client: Petec Trading and Investment Company
Main project features:
1. All data and information were from overseas as this type of market didn’t exist in Vietnam that time.
2. The works mainly related to public media on the petroleum market, concentrating to Crude oil and petroleum product transactions.
Positions held: Market Study and Analysis
Activities performed:
1. Collecting and processing data on the crude oil and petroleum product markets.
2. Studying and updating crude oil and product market information.
3. Projection of tendency of crude oil and product market moves;
4. Evaluating competitiveness of Vietnamese crude oils to other crude oils of similar grades
5. Following up customers’ shifting of demands of Crude oils, the regional supply/demand balances.


7) From 1991 to 1993
Employer: Petec Trading & Investment Company
Position held: Project Coordinator for construction of product storage terminal

Detailed Tasks Assigned

- Planning and coordination of equipments and materials supplies for the project.
- Designing, construction, testing and purchase contract drafting and negotiations.
- Personnel and other related resoures mobilization.
Work Undertaken that Best Illustrates Capability to Handle the Tasks Assigned

Name of assignment or project: Cat Lai Product Storage Terminal
Year: 1991-1993
Location: Cat lai Province
Client: Different construction and supply companies
Main project features:
1. The project consisted of many construction components which need a synchronous works and arrangements.
2. The project was a large scale of investment and needed intensive works for its completion.
Positions held: Project Coordinator
Activities performed:
1. Drafting, negotiating, following-up different types of contracts for designing, construction, material supply and testing works of the Product storage Terminal at Cat lai province.
2. Planning material procurement programs for construction and testing.
3. Assisting the project management in construction and personnel works.


I, the undersigned, certify that to the best of my knowledge and belief, this CV correctly describes myself, my qualifications, and my experience.

Lê Minh Thắng. Date: 18/09/2008

Pháp luật giải quyết tranh chấp này như thế nào?
Cụ thể sự việc ra sao?
+ Tháng 9/2005 Bà N. H. (có chủ quyền đối với căn nhà và mảnh đất) ký giấy tay hợp đồng thế chấp 01 phần căn nhà tại P.6 Q. X cho bà D.H. để vay 70 triệu đồng (không lãi suất và giao phần nhà thế chấp đó cho bà D.H. quản lý và sử dụng) với thời hạn 06 tháng và sau đó bà N. H. vay tiếp 35 triệu đồng (có lãi xuất) của bà D.H. (quan hệ này đựơc điều chỉnh bởi luật dân sự năm 1995)
+ Tháng 4/2006 bà N.H. đã ra công chứng ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và căn nhà đó cho bà T.H. mà D.H. không hề hay biết (Quan hệ này đựơc điều chỉnh bởi luật dân sự năm 2005).
+ Bà D.H. biết được việc bà N.H đã bán nhà khi bà T.H đưa người đến vào khỏang tháng 9/2007 buộc bà D.H. ra khỏi phần căn nhà mà bà N.H đã thế chấp cho bà D.H. để vay tiền.
+ Tháng 9/2007, Bà D.H. khởi kiện vụ tranh chấp ra Tóa án quận X và Tòa án đã thụ lý xét xử tranh chấp đó.
+ Ngày 23/06/2008, Tòa án dân sự Q. X áp dụng điều 346 qui định về việc thế chấp và điều 347 qui định về hình thức thế chấp của BLDS năm 1995 để tuyên Hợp đồng thế chấp giữa bà N.H và bà D.H. là vô hiệu.
Theo qui định tại điều 347 thì: 1. Thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính và phải có chứngnhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có qui định 2. Việc thế chấp phải được đăngký, nếu bất động sản có đăng ký quyền sở hữu.
+ Về phía Luật sư thì cho rằng:
· Tòa nên áp dụng điều 139 BLDS 1995 qui định về giao dịch dân sự ‘không tuân thủ qui định về hình thức’, để ‘theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức giao dịch trong một thời hạn'.
· Đồng thời áp dụng điều 128 BLDS 2005 qui định về Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật (điều cấm là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định ) và đạo đức xã hội (Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.) để tuyên hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và căn nhà giữa Bà N.H. và bà T.H. Lý do là :
o Hợp đồng thế chấp Căn nhà nêu trên dù chưa được công chứng, chứng thực nhưng không đương nhiên vô hiệu. Theo qui định tại khoản 1 điều 204 BLDS 1995 về hạn chế quyền định đoạt, Bà N. H. đang bị hạn chế quyền định đoạt đối với Căn nhà và theo qui định tại tiểu mục c khoản 4 điều 351 BLDS 1995, Bà N.H. (bên thế chấp tài sản) ‘không được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp’. Việc Bà N.H. bán Căn nhà và sang nhượng mảnh đất cho Bà T.H. khi bà N.H. chưa ‘thực hiện nghĩa vụ dân sự được bảo đảm bằng thế chấp’ đối với Bà D.H. là vi phạm điều cấm của pháp luật và như vậy, hợp đồng giữa bà N.H. và Bà T.H., dù được công chứng theo qui định, cũng bị vô hiệu theo qui định tại điều 128 BLDS năm 2005.
o Ngòai ra, việc bán nhà đang thế chấp cho người khác (cho dù về hình thức hợp đồng thế chấp chưa đúng với qui định của pháp luật. Nhưng thực tế là bà N.H. đã thực hiện việc thế chấp) mà không báo và không trả tiền cho người cho vay (bà D.H.) là hành vi vi phạm đạo đức xã hội. Do vậy, Tòa cần phải xem xét đến thực tế để quyết định việc áp dụng các qui định mang tính nguyên tắc này của pháp luật khi phán xét vụ việc nhằm bảo vệ công bằng xã hội, bảo vệ người ngay và ngăn chặn những người có ý đồ xấu chiếm đọat tài sản người khác.
Do đó, vấn đề tôi xin đề cập ở đây là:
+ Đối với cùng một vụ việc, các qui định của luật dẫn đến cách nhận định vấn đề trái ngược nhau, thì người thẩm pháp sẽ phải áp dụng qui định nào khi luật không nói rõ qui định nào có giá trị áp dụng trước và qui định nào có giá trị áp dụng sau?
+ Không thể lọai trừ khả năng, những qui định như thế có thể sẽ là nguồn cơn của tội phạm, sự bất ổn xã hội khi những kẻ xấu nắm được vấn đề này và tìm cách mua chuộc thẩm phán, cán bộ có thẩm quyền để những người này ra những phán quyết có lợi cho mình (mà vẫn không sai qui định) từ đó trốn tránh trách nhiệm và có điều kiện chiếm đọat tài sản của người khác.
+ Đứng về phía Tòa án, có lẽ, Tòa án phải lựa chọn phương án để áp dụng qui định nào mà họ cho rằng sẽ hạn chế được nhiều nhất khả năng kháng cáo, kháng nghị cho dù họ cũng nhìn thấy sự thiệt thòi của người ngay và sự bất hợp lý của tình huống.
Như vậy, giải quyết như thế nào cho đúng pháp luật?
Rất mong các bạn đóng góp và cho ý kiến.
Do quan điểm khác nhau khi phân tích vụ việc nên tôi hy vọng nhận được được sự chia sẻ, đóng góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp, người có chuyên môn, những người có những hòan cảnh tương tự.
Rất mong nhận được đóng góp, phê bình của các bạn. Luật sư Lê Minh Thắng
MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ GIẤY TỜ CÓ GIÁ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM NĂM 2005

Bộ luật dân sự năm 2005 của nước ta đã có rất nhiều đổi mới phù hợp hơn với mong đợi của Xã hội nói chung. Đặc biệt là Bộ luật đã đề cao và coi trọng hơn sự thoả thuận giữa các chủ thể tham gia giao dịch. Bộ luật dân sự năm 2005 đã chấp nhận các hình thái tài sản là ‘vật có giá’ khác mà không buộc phải là ‘vật có thực’. Tuy nhiên, việc thay cụm từ ‘giấy tờ trị giá được bằng tiền’ bằng cụm từ ‘giấy tờ có giá’, theo đánh giá của tôi, có phần giới hạn các loại giấy tờ có thể giao dịch để được pháp luật bảo vệ. Khi nói ‘Giấy tờ trị giá được bằng tiền’ thì nhiều người trong chúng ta đều có thể hiểu đó là tất cả các loại giấy tờ mà các bên tham gia giao dịch có thể chấp thuận trả hoặc nhận một khoản tiền nào đó để có hoặc chuyển giao tờ giấy đó cho bên kia nhằm có được hoặc chuyển giao quyền đối với đối tượng mà giấy tờ đó có liên quan. Khi nói đến cụm từ ‘giấy tờ có giá’ thể hiện đó là tờ giấy mà trên đó có một trị giá cụ thể được xác định bởi chủ thể có thẩm quyền phát hành nó và chủ thể phát hành có nghĩa vụ đối với chủ thể sở hữu giấy tờ đó. Theo nghị định của Chính phủ số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm, “Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch.”. Như vậy, nếu pháp luật không có quy định về một loại giấy tờ có giá nào đó và không qui định có được phép giao dịch hay không đối với giấy tờ đó, dù thị trường có thể định giá và chấp nhận giao dịch đối với các loại giấy tờ đó thì các loại giấy tờ đó cũng chưa được coi là tài sản trong các giao dịch dân sự và các giao dịch liên quan đến giấy tờ này chưa được pháp luật cho phép và bảo vệ. Trong các trường hợp sau, nhu cầu giao dịch là có nhưng vấn đề pháp lý của các giao dịch này còn nhiều tranh cãi. Ví dụ 1 : Bên A ký hợp đồng nhập khẩu lô hàng điện thoại di động (tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu), theo Hợp đồng mà bên A ký với bên cung cấp thì quyền sở hữu và rủi ro chuyển cho bên A khi hàng giao tại cảng TPHCM, hàng sẽ được giao sau thời điểm hiện nay là 01 tháng. Vào thời điểm hiện nay, do cần tiền kinh doanh việc khác, Bên A bán lô hàng này cho bên B trên cơ sở Hợp đồng mà bên A ký với bên cung cấp. Tại thời điểm này, Bên A vẫn chưa sở hữu taì sản là lô hàng điện thoại di động. Như vậy, giấy tờ trị giá được ở đây chỉ là Hợp đồng mà bên A ký với bên cung cấp. Ví dụ 2 : Trường hợp khác, A ký thoả thuận sang nhượng quyền sử dụng đất và nhà (tài sản phải đăng ký quyền sở hữu) cho B. Căn nhà và mảnh đất của A phù hợp qui hoạch, nhưng chưa có giấy CNQSDĐƠ và QSHNƠ. A cam kết sẽ làm thủ tục sang nhượng cho B sau khi A làm xong giấy tờ đứng tên mình. Trong thời gian chờ đợi A làm thủ tục sang tên cho B. Do nhu cầu, B quyết định ký thoả thuận với C cam kết sẽ sang tên chủ quyền cho C sau khi nhận chuyển tên từ bên A đối với căn nhà và mảnh đất mà B đang có thoả thuận với A. Tại thời điểm này, B vẫn chưa sở hữu tài sản là căn nhà và mảnh đất. Như vậy, giấy tờ trị giá được ở đây chỉ là thoả thuận giữa A và B. Pháp luật đã thừa nhận tài sản hình thành trong tương lai qui định tại khoản 2 điều 4 nghị định của Chính phủ số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm. Theo đó ‘Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc sở hữu của bên bảo đảm’. Tuy nhiên, do chưa có hướng dẫn cụ thể của Hội đồng thẩm phán tối cao hoặc Toà án nhân dân tối cao về các giao dịch liên quan đến tài sản hình thành trong tương lai nên dẫn đến việc, trong ví dụ 2 nêu trên, Toà tuyên giao dịch giữa B và C là vô hiệu do vi phạm về đối tượng giao dịch. Điều này dẫn đến thiệt hại cho bên có giao dịch ngay tình và hệ quả pháp lý là đi ngược lại một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật – nguyên tắc tôn trọng quyền tự do cam kết, thoả thuận. Với ví dụ 2 nêu trên, trường hợp B đã nhận một phần hoặc toàn bộ số tiền liên quan từ C. Sau đó do thị trường nhà đất tăng giá, Bên B tìm cách lật lọng, không tiếp tục thực hiện các cam kết. Nếu vụ việc được đưa ra toà giải quyết thì phần thắng trong vụ kiện này nghiêng về Bên B. Bên C là người chịu nhiều thiệt thòi nhất trong giao dịch này. Vậy liệu đây có phải hệ quả pháp lý đáng lo ngại hay không khi điều này có thể dẫn đến vi phạm nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự là ’bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt ‘, trật tự, công bằng xã hội? Các cam kết, thoả thuận tại các ví dụ nêu trên có vi phạm điều cấm của pháp luật, và trái đạo đức xã hội hay không? Chúng ta đã có các qui định cụ thể xác định các giao dịch đó là không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội hay chưa? Việc ra các qui định hướng dẫn đối với các giao dịch đề cập ở trên là hướng tới sự thích nghi với thực tế cuộc sống đa dạng, phong phú và nhằm hạn chế các cơ hội đối với những người có ý đồ xấu trong các giao dịch dân sự gây mất trật tự xã hội, đi trái với truyền thống và đạo đức dân tộc. Vấn đề được nêu ra với mong muốn nhận được các đóng góp chân tình mang tính xây dựng của những ai có quan tâm. Luật Sư Lê Minh Thắng
CÁI NHÌN KHÁC VỀ QUI ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO

Một trong các mối quan tâm hàng đầu của nhiều doanh nghiệp là những qui định chống bán phá giá hàng hoá đối với các thành viên WTO. Các nước thành viên WTO khác đã có nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng các qui định này để bảo vệ thị trường và ngành sản xuất trong nước. Theo qui định tại Chương VI của Thoả thuận chung về thuế quan và thương mại của Tổ chức thương mại thế giới về thuế chống bán phá giá thì hành vi bị coi là bán phá giá khi hàng hoá của một nước được đưa vào thương mại tại một nước khác với giá thấp hơn giá trị bình thường của hàng hoá đó mà việc bán phá giá này gây ra hoặc có nguy cơ gây ra tổn hại vật chất đối với nền công nghiệp hiện có tại vùng lãnh thổ của nước nhập khẩu hoặc làm hạn chế khả năng hình thành nền công nghiệp nội địa đó một cách cơ bản. Như vậy, một trong những khả năng mà một hàng hoá có thể bị cho rằng vi phạm điều khoản về bán phá giá là khối lượng nhập khẩu mặt hàng đó vào nước kia đáng kể, chiếm một thị phần đủ để gây ảnh hưởng đến nền công nghiệp của nước nhập khẩu; giá bán ở mức đủ thấp mà các nhà sản xuất trong nước nhập khẩu không thể cạnh tranh, có thể dẫn đến thua lỗ liên tục kéo dài, dẫn đến không có khả năng tái đầu tư hoặc phá sản, …. và giá bán của hàng hoá nhập khẩu thấp hơn mức giá bán có thể so sánh được tại nước xuất khẩu (có tính đến các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng so sánh được của giá mua bán). Để kết luận có hay không hành vi bán phá giá cần phải xác định được như thế nào là thấp hơn giá bình thường, xác định sự xuất hiện tổn hại hoặc nguy cơ gây tổn hại đối với nền công nghiệp cụ thể nào đó,…. Đây là công việc hao tốn nhiều công sức và tiền của. Không những thế, các qui định còn mang tính tổng quát, việc áp dụng các qui định đó để tiến hành điều tra chống bán phá giá yêu cầu những qui định chi tiết và cụ thể hơn. Năm 1994, các bên đã đạt được thoả thuận trong việc cụ thể hoá chương VI của Thoả thuận chung về thuế quan và thương mại về hiện tượng bán phá giá và các biện pháp đáp trả. Tại đó, các định nghĩa về phá giá, về tổn hại vật chất, về thế nào là một ngành công nghiệp, việc bắt đầu tiến hành điều tra hiện tượng bán phá giá, việc áp dụng sơ bộ các biện pháp đối phó, áp dụng hình thức bảo đảm,… được qui định chi tiết hơn. Đây là cơ sở để các thành viên của Tổ chức thương mại thế gới xem xét quyết định có tiến hành hay không việc điều tra chống phá giá đối với một hàng hoá cụ thể nào đó khi hàng hoá đó được nhập vào tiêu thụ thương mại tại thị trường của mình có vi phạm điều kiện bán phá giá hay không. Từ đó đưa ra các biện pháp áp dụng chống bán phá giá phù hợp. Tuy nhiên, chương VI của Thoả thuận chung về thuế quan và thương mại cũng đề cập đến giới hạn việc áp dụng biện pháp thuế quan để đối phó của bên bị cho rằng mình thiệt hại từ hành vi bán phá giá của bên kia. Qua đó cho thấy, biện pháp chống bán phá giá là một trong những công cụ bảo hộ ở mức độ hợp lý ngành sản xuất trong nước. Qui định không chấp nhận việc bảo hộ quá mức mà hàng bị bán phá giá; bởi hệ quả của việc bảo hộ quá mức sẽ làm tăng giá của hàng hoá đó trên thị trường, không khuyến khích các nhà sản xuất giảm giá thành, tiết kiệm chi phí, dẫn đến gây thiệt hại cho người tiêu dùng; qua đó hình thành một thị trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng hơn với mong muốn thúc đẩy phát triển. Cho đến nay, chúng ta thường nghe nói nhiều đến việc các doanh nghiệp Việt nam lo lắng bị áp thuế chống bán phá giá. Nay, có lẽ chúng ta thử nhìn vấn đề ở khía cạnh bảo hộ cho các ngành sản xuất của Việt nam khi áp dụng các qui định này để tìm khả năng bảo hộ một cách hợp lý các ngành sản xuất còn non trẻ của nước ta. Tuy nhiên, do định nghĩa và giới hạn so sánh giá bán phá giá của hàng hoá cụ thể nào đó đòi hỏi cơ sở chứng cứ, số liệu mang tính thuyết phục cao, do đó để có được thông tin thuyết phục về hành vi bán phá giá một loại hàng hoá nào đó cần phải tiến hành một khối lượng công việc không nhỏ vừa mang tính kỹ thuật, vừa mang tính thương mại quốc tế và vừa phải có cơ sở và số liệu đầy đủ. Như trên đã đề cập, đây là công việc hao tốn nhiều công sức và tiền của. Nhưng lợi ích của nó là tìm kiếm khả năng tốt nhất có thể để bảo vệ ngành sản xuất hàng hoá trong nước (i) không đánh mất thị trường tiêu thụ sản phẩm có sẵn; (ii) hạn chế khả năng một nghành công nghiệp của chúng ta bị ảnh hưởng nghiêm trọng có thể dẫn đến khánh kiệt, phá sản do các hành vi bán phá giá của các nhà sản xuất nước ngoài; hoặc (iii) dẫn đến việc một ngành công nghiệp nào đó không thể hình thành, phát triển được. Cứ một ngày trôi qua là chúng ta càng đến gần ngày hội nhập đầy đủ vào hệ thống luật của WTO. Việc có được sự hỗ trợ của hiệp hội các doanh nghiệp quan tâm đối với các tổ chức luật sư trong nước có đầu tư trong lĩnh vực này sẽ là cơ sở để giúp củng cố vị thế của doanh nghiệp trong cũng như ngoài nước. Vấn đề là hiệp hội các doanh nghiệp có cho rằng đây là một nhu cầu vì lợi ích phát triển ổn định lâu dài của mình hay không? Câu trả lời thuộc về phía hiệp hội các doanh nghiệp Việt nam. Chúng tôi cho rằng, hoạt động này không chỉ là đáp ứng nhu cầu phát triển ngành nghề của Luật sư nói riêng mà nó còn là đòi hỏi thực tế của công cuộc hội nhập của nước ta trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của từng quốc gia. Nó sẽ hữu ích đối với nhiều nhóm ngành nghề kinh doanh của Việt nam, nhất là những nghành nghề đang có nhiều mối quan tâm về khả năng cạnh tranh của mình tại sân nhà cũng như nhóm ngành nghề xuất khẩu chủ lực của Việt nam. Luật Sư Lê Minh Thắng