CÁI NHÌN KHÁC VỀ QUI ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO
Một trong các mối quan tâm hàng đầu của nhiều doanh nghiệp là những qui định chống bán phá giá hàng hoá đối với các thành viên WTO. Các nước thành viên WTO khác đã có nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng các qui định này để bảo vệ thị trường và ngành sản xuất trong nước. Theo qui định tại Chương VI của Thoả thuận chung về thuế quan và thương mại của Tổ chức thương mại thế giới về thuế chống bán phá giá thì hành vi bị coi là bán phá giá khi hàng hoá của một nước được đưa vào thương mại tại một nước khác với giá thấp hơn giá trị bình thường của hàng hoá đó mà việc bán phá giá này gây ra hoặc có nguy cơ gây ra tổn hại vật chất đối với nền công nghiệp hiện có tại vùng lãnh thổ của nước nhập khẩu hoặc làm hạn chế khả năng hình thành nền công nghiệp nội địa đó một cách cơ bản. Như vậy, một trong những khả năng mà một hàng hoá có thể bị cho rằng vi phạm điều khoản về bán phá giá là khối lượng nhập khẩu mặt hàng đó vào nước kia đáng kể, chiếm một thị phần đủ để gây ảnh hưởng đến nền công nghiệp của nước nhập khẩu; giá bán ở mức đủ thấp mà các nhà sản xuất trong nước nhập khẩu không thể cạnh tranh, có thể dẫn đến thua lỗ liên tục kéo dài, dẫn đến không có khả năng tái đầu tư hoặc phá sản, …. và giá bán của hàng hoá nhập khẩu thấp hơn mức giá bán có thể so sánh được tại nước xuất khẩu (có tính đến các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng so sánh được của giá mua bán). Để kết luận có hay không hành vi bán phá giá cần phải xác định được như thế nào là thấp hơn giá bình thường, xác định sự xuất hiện tổn hại hoặc nguy cơ gây tổn hại đối với nền công nghiệp cụ thể nào đó,…. Đây là công việc hao tốn nhiều công sức và tiền của. Không những thế, các qui định còn mang tính tổng quát, việc áp dụng các qui định đó để tiến hành điều tra chống bán phá giá yêu cầu những qui định chi tiết và cụ thể hơn. Năm 1994, các bên đã đạt được thoả thuận trong việc cụ thể hoá chương VI của Thoả thuận chung về thuế quan và thương mại về hiện tượng bán phá giá và các biện pháp đáp trả. Tại đó, các định nghĩa về phá giá, về tổn hại vật chất, về thế nào là một ngành công nghiệp, việc bắt đầu tiến hành điều tra hiện tượng bán phá giá, việc áp dụng sơ bộ các biện pháp đối phó, áp dụng hình thức bảo đảm,… được qui định chi tiết hơn. Đây là cơ sở để các thành viên của Tổ chức thương mại thế gới xem xét quyết định có tiến hành hay không việc điều tra chống phá giá đối với một hàng hoá cụ thể nào đó khi hàng hoá đó được nhập vào tiêu thụ thương mại tại thị trường của mình có vi phạm điều kiện bán phá giá hay không. Từ đó đưa ra các biện pháp áp dụng chống bán phá giá phù hợp. Tuy nhiên, chương VI của Thoả thuận chung về thuế quan và thương mại cũng đề cập đến giới hạn việc áp dụng biện pháp thuế quan để đối phó của bên bị cho rằng mình thiệt hại từ hành vi bán phá giá của bên kia. Qua đó cho thấy, biện pháp chống bán phá giá là một trong những công cụ bảo hộ ở mức độ hợp lý ngành sản xuất trong nước. Qui định không chấp nhận việc bảo hộ quá mức mà hàng bị bán phá giá; bởi hệ quả của việc bảo hộ quá mức sẽ làm tăng giá của hàng hoá đó trên thị trường, không khuyến khích các nhà sản xuất giảm giá thành, tiết kiệm chi phí, dẫn đến gây thiệt hại cho người tiêu dùng; qua đó hình thành một thị trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng hơn với mong muốn thúc đẩy phát triển. Cho đến nay, chúng ta thường nghe nói nhiều đến việc các doanh nghiệp Việt nam lo lắng bị áp thuế chống bán phá giá. Nay, có lẽ chúng ta thử nhìn vấn đề ở khía cạnh bảo hộ cho các ngành sản xuất của Việt nam khi áp dụng các qui định này để tìm khả năng bảo hộ một cách hợp lý các ngành sản xuất còn non trẻ của nước ta. Tuy nhiên, do định nghĩa và giới hạn so sánh giá bán phá giá của hàng hoá cụ thể nào đó đòi hỏi cơ sở chứng cứ, số liệu mang tính thuyết phục cao, do đó để có được thông tin thuyết phục về hành vi bán phá giá một loại hàng hoá nào đó cần phải tiến hành một khối lượng công việc không nhỏ vừa mang tính kỹ thuật, vừa mang tính thương mại quốc tế và vừa phải có cơ sở và số liệu đầy đủ. Như trên đã đề cập, đây là công việc hao tốn nhiều công sức và tiền của. Nhưng lợi ích của nó là tìm kiếm khả năng tốt nhất có thể để bảo vệ ngành sản xuất hàng hoá trong nước (i) không đánh mất thị trường tiêu thụ sản phẩm có sẵn; (ii) hạn chế khả năng một nghành công nghiệp của chúng ta bị ảnh hưởng nghiêm trọng có thể dẫn đến khánh kiệt, phá sản do các hành vi bán phá giá của các nhà sản xuất nước ngoài; hoặc (iii) dẫn đến việc một ngành công nghiệp nào đó không thể hình thành, phát triển được. Cứ một ngày trôi qua là chúng ta càng đến gần ngày hội nhập đầy đủ vào hệ thống luật của WTO. Việc có được sự hỗ trợ của hiệp hội các doanh nghiệp quan tâm đối với các tổ chức luật sư trong nước có đầu tư trong lĩnh vực này sẽ là cơ sở để giúp củng cố vị thế của doanh nghiệp trong cũng như ngoài nước. Vấn đề là hiệp hội các doanh nghiệp có cho rằng đây là một nhu cầu vì lợi ích phát triển ổn định lâu dài của mình hay không? Câu trả lời thuộc về phía hiệp hội các doanh nghiệp Việt nam. Chúng tôi cho rằng, hoạt động này không chỉ là đáp ứng nhu cầu phát triển ngành nghề của Luật sư nói riêng mà nó còn là đòi hỏi thực tế của công cuộc hội nhập của nước ta trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của từng quốc gia. Nó sẽ hữu ích đối với nhiều nhóm ngành nghề kinh doanh của Việt nam, nhất là những nghành nghề đang có nhiều mối quan tâm về khả năng cạnh tranh của mình tại sân nhà cũng như nhóm ngành nghề xuất khẩu chủ lực của Việt nam. Luật Sư Lê Minh Thắng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét