Thứ Tư, 17 tháng 9, 2008

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ GIẤY TỜ CÓ GIÁ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM NĂM 2005

Bộ luật dân sự năm 2005 của nước ta đã có rất nhiều đổi mới phù hợp hơn với mong đợi của Xã hội nói chung. Đặc biệt là Bộ luật đã đề cao và coi trọng hơn sự thoả thuận giữa các chủ thể tham gia giao dịch. Bộ luật dân sự năm 2005 đã chấp nhận các hình thái tài sản là ‘vật có giá’ khác mà không buộc phải là ‘vật có thực’. Tuy nhiên, việc thay cụm từ ‘giấy tờ trị giá được bằng tiền’ bằng cụm từ ‘giấy tờ có giá’, theo đánh giá của tôi, có phần giới hạn các loại giấy tờ có thể giao dịch để được pháp luật bảo vệ. Khi nói ‘Giấy tờ trị giá được bằng tiền’ thì nhiều người trong chúng ta đều có thể hiểu đó là tất cả các loại giấy tờ mà các bên tham gia giao dịch có thể chấp thuận trả hoặc nhận một khoản tiền nào đó để có hoặc chuyển giao tờ giấy đó cho bên kia nhằm có được hoặc chuyển giao quyền đối với đối tượng mà giấy tờ đó có liên quan. Khi nói đến cụm từ ‘giấy tờ có giá’ thể hiện đó là tờ giấy mà trên đó có một trị giá cụ thể được xác định bởi chủ thể có thẩm quyền phát hành nó và chủ thể phát hành có nghĩa vụ đối với chủ thể sở hữu giấy tờ đó. Theo nghị định của Chính phủ số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm, “Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch.”. Như vậy, nếu pháp luật không có quy định về một loại giấy tờ có giá nào đó và không qui định có được phép giao dịch hay không đối với giấy tờ đó, dù thị trường có thể định giá và chấp nhận giao dịch đối với các loại giấy tờ đó thì các loại giấy tờ đó cũng chưa được coi là tài sản trong các giao dịch dân sự và các giao dịch liên quan đến giấy tờ này chưa được pháp luật cho phép và bảo vệ. Trong các trường hợp sau, nhu cầu giao dịch là có nhưng vấn đề pháp lý của các giao dịch này còn nhiều tranh cãi. Ví dụ 1 : Bên A ký hợp đồng nhập khẩu lô hàng điện thoại di động (tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu), theo Hợp đồng mà bên A ký với bên cung cấp thì quyền sở hữu và rủi ro chuyển cho bên A khi hàng giao tại cảng TPHCM, hàng sẽ được giao sau thời điểm hiện nay là 01 tháng. Vào thời điểm hiện nay, do cần tiền kinh doanh việc khác, Bên A bán lô hàng này cho bên B trên cơ sở Hợp đồng mà bên A ký với bên cung cấp. Tại thời điểm này, Bên A vẫn chưa sở hữu taì sản là lô hàng điện thoại di động. Như vậy, giấy tờ trị giá được ở đây chỉ là Hợp đồng mà bên A ký với bên cung cấp. Ví dụ 2 : Trường hợp khác, A ký thoả thuận sang nhượng quyền sử dụng đất và nhà (tài sản phải đăng ký quyền sở hữu) cho B. Căn nhà và mảnh đất của A phù hợp qui hoạch, nhưng chưa có giấy CNQSDĐƠ và QSHNƠ. A cam kết sẽ làm thủ tục sang nhượng cho B sau khi A làm xong giấy tờ đứng tên mình. Trong thời gian chờ đợi A làm thủ tục sang tên cho B. Do nhu cầu, B quyết định ký thoả thuận với C cam kết sẽ sang tên chủ quyền cho C sau khi nhận chuyển tên từ bên A đối với căn nhà và mảnh đất mà B đang có thoả thuận với A. Tại thời điểm này, B vẫn chưa sở hữu tài sản là căn nhà và mảnh đất. Như vậy, giấy tờ trị giá được ở đây chỉ là thoả thuận giữa A và B. Pháp luật đã thừa nhận tài sản hình thành trong tương lai qui định tại khoản 2 điều 4 nghị định của Chính phủ số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm. Theo đó ‘Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc sở hữu của bên bảo đảm’. Tuy nhiên, do chưa có hướng dẫn cụ thể của Hội đồng thẩm phán tối cao hoặc Toà án nhân dân tối cao về các giao dịch liên quan đến tài sản hình thành trong tương lai nên dẫn đến việc, trong ví dụ 2 nêu trên, Toà tuyên giao dịch giữa B và C là vô hiệu do vi phạm về đối tượng giao dịch. Điều này dẫn đến thiệt hại cho bên có giao dịch ngay tình và hệ quả pháp lý là đi ngược lại một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật – nguyên tắc tôn trọng quyền tự do cam kết, thoả thuận. Với ví dụ 2 nêu trên, trường hợp B đã nhận một phần hoặc toàn bộ số tiền liên quan từ C. Sau đó do thị trường nhà đất tăng giá, Bên B tìm cách lật lọng, không tiếp tục thực hiện các cam kết. Nếu vụ việc được đưa ra toà giải quyết thì phần thắng trong vụ kiện này nghiêng về Bên B. Bên C là người chịu nhiều thiệt thòi nhất trong giao dịch này. Vậy liệu đây có phải hệ quả pháp lý đáng lo ngại hay không khi điều này có thể dẫn đến vi phạm nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự là ’bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt ‘, trật tự, công bằng xã hội? Các cam kết, thoả thuận tại các ví dụ nêu trên có vi phạm điều cấm của pháp luật, và trái đạo đức xã hội hay không? Chúng ta đã có các qui định cụ thể xác định các giao dịch đó là không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội hay chưa? Việc ra các qui định hướng dẫn đối với các giao dịch đề cập ở trên là hướng tới sự thích nghi với thực tế cuộc sống đa dạng, phong phú và nhằm hạn chế các cơ hội đối với những người có ý đồ xấu trong các giao dịch dân sự gây mất trật tự xã hội, đi trái với truyền thống và đạo đức dân tộc. Vấn đề được nêu ra với mong muốn nhận được các đóng góp chân tình mang tính xây dựng của những ai có quan tâm. Luật Sư Lê Minh Thắng

Không có nhận xét nào: